(Xây dựng) - Tháng Chạp, khi những nụ mầm đã bắt đầu hé mở đón hơi ấm mùa Xuân, khi những cơn rét ngọt đã gieo sự nồng đượm lên màu áo quê hương, ấy cũng là lúc lòng tôi chộn rộn mong nhớ trở về. Trong những phút nghiêng lòng về phố núi Hương Sơn ấy, dâng ngập trong tôi là những hoài niệm cũ xưa, những cảm xúc thanh tân, rạo rực… là niềm tự hào về quá khứ, là niềm ước vọng về một tương lai đang đến cùng xuân mới.
Xuân đến. Nụ đào đua nhau bung nở, nhà nhà hối hả chuẩn bị đón xuân. Ấy là lúc nội bưng cơi trầu ra ngồi bậu cửa, mắt xa xăm như mong đợi ai về. Tôi không được sinh ra bên dòng sông Ngàn Phố hiền hòa nhưng tuổi thơ tôi đã có những năm tháng lặn ngụp sáng chiều ở đó. Trong niềm tin tâm linh mơ hồ nào đó tôi luôn thầm cảm ơn dòng sông đã mang lại cho chúng tôi cuộc sống đủ đầy và chính dòng sông thơ mộng ấy đã cho nội tôi đủ nghị lực để vượt qua giông bão cuộc đời.
Tôi lớn lên không thấy mặt ông nội, chiến tranh đã làm cho bà tôi chưa đủ 30 xuân xanh đã trở thành góa phụ, tôi thường hình dung khuôn mặt chữ điền nghiêm nghị và bờ vai rắn rỏi của ông qua lời kể của bà. Ông tôi thường xuất hiện trong câu chuyện của bà tôi giữa những đêm trăng theo bà đi gánh lúa, hay mỗi khi ôm em trai tôi vào lòng bao giờ bà cũng bấu vào má và nựng “tổ cha mi chơ răng mà giống nội mi ri”… Nội tôi thuộc thế hệ đầu của thế kỷ XX. Được hưởng trọn đặc ân của núi rừng sông nước, bà sở hữu một khuôn mặt đẹp, da trắng ngần nhưng đôi mắt đượm buồn, hoang hoải. Chính vẻ hoang hoải ấy đã hắt bóng lên cuộc đời bà. 13 tuổi mồ côi cha, bà phải đi ở đợ rồi bị gả chồng, từ đó coi như bà không có quãng thời gian mơ mộng của “thì con gái”. 20 tuổi bà lần lượt sinh 5 người con thì bom đạn chiến tranh đã cướp mất ông tôi. Giữa thời bao cấp khốn khó nội tôi đã bám sông Ngàn Phố để nuôi lớn cha tôi và các o và có lẽ trong cuộc đời dằng dặc những nhọc nhằn mưu sinh ấy, để con cái trưởng thành là niềm hạnh phúc duy nhất trong cuộc đời nội.
Ngàn Phố. Không biết sông có từ bao giờ nhưng trong mông lung chuyện cũ của nội tôi thì xa xưa sông có tên Đỗ Gia bắt nguồn từ đại ngàn Sơn Kim và Sơn Tân chính là điểm cuối trước khi hợp lưu với “dải lụa” Ngàn Sâu, khoác lên mình tên gọi mới La Giang. Tạo hóa đã ban cho Hương Sơn một vị trí địa lý đặc biệt, vừa xa xôi vừa hiểm trở nên có câu truyền: “Thiên hạ đại loạn… Hương Sơn độc yên”. Khi đất nước có chiến tranh Hương Sơn trở thành đất tụ cư của người tứ xứ. Họ mang theo truyền thống văn hóa của trăm miền quê, hòa cùng truyền thống văn hóa của người bản địa, lâu dần tạo nên một sắc thái ít nhiều khác với các vùng quê xứ Nghệ.
Năm tháng qua đi, Hương Sơn không chỉ được biết đến bởi những anh hùng thảo dã như: Nguyễn Tuấn Thiện, Cao Thắng và các hảo hán như Lê Hữu Tạo, Nguyễn Đình Kiểu… Sẽ có lỗi nếu nhắc đến Hương Sơn mà không nhắc lại tên tuổi những con người đã làm rạng rỡ quê hương, đất nước: Lê Hữu Trác, Hà Học Hải, Hà Huy Giáp, Nguyễn Khắc Viện, Phạm Song, Nguyễn Khắc Niêm, Đinh Việt Anh… những tên tuổi đã làm nên một cốt cách Hương Sơn trong lòng người xa xứ.
Khi đã thành khách lãng du khắp phương trời, trong những nỗi nhớ xa xăm, Hương Sơn thường trở về trong lòng tôi với những sản vật được xếp gọn gàng, tỉ mẩn trong quang gánh của nội mỗi phiên chợ sớm. Nội gánh cả ước mơ và khát vọng của cha tôi qua từng buổi chợ với các sản vật như: Nộm trám đen, nộm tro om, nộm hoa chuối rừng, nộp rau mít là món ăn được người dân Hương Sơn coi là sự ưu ái ban tặng của núi rừng. Theo nội ngược xuôi qua nhiều phiên chợ tôi bắt gặp ở đó các sản vật đặc trưng của Hương Sơn như: Cá mát, nước dam, cá chuối… nhiều món quà dân dã đã “ám ảnh” tôi suốt quãng đời thơ ấu: Bánh đa kê, kẹo cục múc, bánh ít, kẹo cu đơ, bánh đúc gạo lứt, cam bù đồi Thanh Mai… đã trở thành đặc sản quý của người dân Hương Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà người dân Hương Sơn từ xa xưa đã có câu “lắm lúa Trị Yên/ lắm tiền Thịnh Xá” là bởi, người dân Thịnh Xá (nay là Sơn Thịnh) từ xa xưa đã có nhiều nghề thủ công, nghề nào cũng đạt đến trình độ kỹ xảo nên có thu nhập khá. Từ thượng nguồn, Ngàn Phố đã mang về biết bao nguyên liệu để làm nên một Sơn Thịnh nổi tiếng với nghề đan lát và làm guốc mộc. Cũng từ dòng chảy này, những đôi guốc mộc, những nong - thúng - dần - sàng... đã theo thuyền bè tới những vùng quê xa mang theo cả nét văn hóa của vùng sông núi mà người thợ đã gửi gắm qua đôi tay khéo léo của mình. Và có mấy ai hay kẹo Cu đơ - đặc sản của Hà Tĩnh ngày nay là khởi nguồn từ nhà ông Cu Hai ở bến sông Ngàn Phố…
Làng mộc Xa Lang nổi tiếng khắp huyện, khắp tỉnh, lên cả triều đình với những người thợ không chỉ khéo léo mà còn có triết mỹ uyên thâm như bác cả Mền, phó Xuân, phó Thảnh… Tương truyền cả Mền (1868 - 1933) là thợ cả tài hoa trong làng mộc Xa Lang. Tài năng và cốt cách của ông được thừa hưởng từ nghiệp tổ tông, từ các vị cao tổ, tằng tổ họ Trần vốn là những chuyên gia xây dựng kiến trúc có biệt tài về tạo dáng, chạm khắc tinh xảo, điệu nghệ và thường xuyên thiết kế, quy hoạch tổng thể các công trình hoành tráng. Từ thuở còn là thanh niên, ông đã được tôn là bậc thợ cả, nổi tiếng khắp trong và ngoài tỉnh. Đôi bàn tay vàng và đặc biệt là cảm quan thẩm mỹ, những quan điểm duy mỹ vừa sáng tạo vừa đậm đà tính dân tộc và phong cách dân gian độc đáo của ông nay vẫn còn in đậm dấu ấn trên những công trình đền đài, lăng tẩm như đình Trung Cần, đình Hoành Sơn, Khiêm cung lăng vua Tự Đức…
Sông Ngàn Phố là quà tặng vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho mảnh đất Hương Sơn. Sẽ có lỗi với miền đất dấu yêu này nếu những hồi ức tuyệt đẹp chỉ dừng lại ở cảnh sắc mà không gợi nhớ về làng khoa bảng Sơn Hòa với 2 dòng họ danh tiếng Nguyễn Khắc và Đinh Nho. Linh khí của dòng sông đã hợp với thổ nhưỡng tạo nên chốn địa linh nhân kiệt, trong đó phải kể đến những tên tuổi lớn như Thượng thư Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện… Họ đã được sinh ra ở đây, uống nước khúc sông này, ngụp lặn và lớn lên cùng con sông quê hương và trở thành nguyên khí của quốc gia.
Tại ngôi chùa Tượng Sơn nằm sát tả ngạn sông Ngàn Phố (nay thuộc Sơn Giang) đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã hoàn thành 66 quyển của 28 tập bộ sách “Y tông tâm lĩnh” vô cùng quý giá đối với nền y học Việt Nam cả về y thuật lẫn y đức. Dẫu không được sinh ra và lớn lên ở đây, nhưng cuối đời ông đã tìm về với mảnh đất Tình Diệm (Hương Sơn) quê mẹ để gửi gắm những tác phẩm để đời của mình. Giờ đây, từ lòng sông Ngàn Phố có thể nhìn thấy rất rõ tượng đài và khu mộ đá Lãn Ông trên núi Minh Tự đã được tôn tạo, xây dựng. Đó là nơi có vị thế “Tả toàn long thu hữu toàn thủy” mà sinh thời bậc danh y rất giỏi thuật phong thủy ấy đã căn dặn con cháu mai táng ông ở đó khi ông qua đời. Khu du lịch sinh thái Hải Thượng nằm trong quần thể di tích được xây dựng và đưa vào khai thác đã tạo cho Hương Sơn một địa chỉ du lịch tâm linh thiêng liêng và hùng vĩ.
Hương Sơn. Vùng đất đầy nắng, gió và huyền thoại nhưng là vùng đất lắng đọng nhiều trầm tích văn hóa, đã từng là đất dấy nghĩa, là căn cứ là phên dậu, nhiều thuần phong mỹ tục bền vững, nhiều dòng họ nổi tiếng, nhiều danh nhân, khoa bảng… được gìn giữ và phát triển tạo nên một Hương Sơn mang cốt cách vững vàng với những nét rất riêng của một vùng quê lam lũ, cần cù mà thanh lịch. Về Hương Sơn. Thăm những trang trại bạt ngàn cây ăn quả, những mô hình chăn nuôi thu nhập tiền tỷ, tôi cảm nhận rõ cuộc sống của người dân huyện miền núi đang từng ngày khởi sắc. Hương Sơn đang nỗ lực khai thác tiềm năng đất đai rộng lớn, phát huy thế mạnh nguồn lao động dồi dào, đã tạo bước đột phá trong hai mũi nhọn kinh tế là chăn nuôi và trồng cây ăn quả. Xác định đột phá tái cơ cấu nông nghiệp, xây dựng thương hiệu sản phẩm quốc gia (hươu, cam bù), tăng tỷ trọng dịch vụ thương mại gắn với xây dựng nông thôn mới là đòn bẩy để Hương Sơn phát triển là bước đi đúng đắn mà huyện nhà đã đề ra.
Những chuyện về quê hương của những kẻ xa xứ cứ như thể không có hồi kết. Chuyện nọ nối chuyện kia, có lúc rơi vào im lặng mà lại ngồn ngộn cảm xúc. Đó là nơi luôn dạt dào hoài niệm. Tôi hiểu thêm rằng, vì sao người đi xuyên thời gian như nội tôi lại tần ngần bên cơi trầu mỗi khi Tết đến xuân về.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét